Category Archives: Triệu chứng bệnh tiêu chảy
Thực phẩm tốt nhất cho trẻ bị tiêu chảy
Hè này, nếu bé nhà bạn bị tiêu chảy, bạn cần ngăn chặn tình trạng này nhanh chóng bằng việc sử dụng thuốc tiêu chảy với chế độ ăn uống để ngừng tình trạng này càng sớm càng tốt.
Đôi khi hiện tượng tiêu chảy ở trẻ ngừng lại thì có thể cũng là lúc trẻ có thể dễ dàng bị táo bón. Khi ấy, bạn cũng muốn hệ tiêu hóa của trẻ trở lại bình thường. Do đó, cha mẹ có thể thực hiện bằng cách cho trẻ kết thân với các thực phẩm sau trong chế độ ăn uống hàng ngày của trẻ cho đến khi hiện tượng tiêu chảy dần lắng xuống.
1. Chuối
Chuối là thực phẩm tuyệt vời để ngừng tiêu chảy cho trẻ. Tuy chuối rất to nhưng chúng lại mềm và không gây kích thích hệ tiêu hóa.
2. Gạo
Gạo cũng được coi là một thực phẩm chống tiêu chảy mà rất nhiều người biết đến và ca ngợi. Bởi vì gạo là thực phẩm khá nhạt, nó cũng giúp giảm thiểu và làm chậm quá trình tiêu chảy diễn ra trong cơ thể bé.
3. Táo
Táo là một loại quả rất dễ tiêu hóa với trẻ, chúng nhiều chất xơ và cung cấp một lượng lớn nước để bù đắp cho lượng nước đã mất đi khi trẻ bị tiêu chảy.
4. Bánh mì
Bánh mì sẽ giúp hấp thụ thêm các axit có trong dạ dày, làm giảm tình trạng axít trong dạ dày từ đó giúp phòng ngừa hữu hiệu bệnh tiêu chảy.
Ngoài chế độ ăn uống nhạt, hoặc cho trẻ uống thức uống bù nước, bạn có thể cho trẻ măm măm các loại thực phẩm sau đây:
- Sữa chua: Nếu trẻ bị tiêu chảy do mất cân bằng vi khuẩn thì những vi khuẩn hữu ích trong sữa chua có thể giúp khôi phục sự cân bằng thích hợp này và làm giảm tình trạng tiêu chảy cho con bạn.
- Mỳ: cho trẻ ăn một phần nhỏ của những mỳ sợi cũng có thể giúp ổn định dạ dày của con bạn.
- Khoai tây luộc: Khoai tây luộc thường khá nhạt mà lại thơm ngon nên sẽ không gây kích thích với ruột của trẻ.
Nếu như bạn vừa cho em bé của bạn kết thân với các thực phẩm trên trong vòng 6h thì tốt nhất bạn nên cho trẻ đang bị tiêu chảy tránh xa các sản phẩm sữa, cà phê, thực phẩm gia vị, thức ăn chiên, dầu hoặc bất kỳ những thực phẩm có chứa đường nào khác. Hãy duy trì một chế độ ăn nhạt cho trẻ cho đến khi bạn cảm thấy trẻ đang khá hơn trong một vài giờ sau đó.
(Theo afamily)
Dứa ngăn chặn bệnh tiêu chảy
Để chọn một loại trái cây vừa ngon, vừa bổ lại không nóng chắc hẳn không có nhiều người nghĩ tới quả dứa. Thực tế dứa lại là loại quả đảm bảo đầy đủ những ưu điểm đó. Trong dứa có nhiều chất dinh dưỡng và vitamin như vitamin B1, vitamin B2, vitamin C, vitamin E, chất xơ, protein giúp giải rượu, đường canxi, natri, sắt và v.v…
Theo phân tích, 100 gam dứa có chứa 9,3 gam carbohydrate, 0,4 gam protein, 0,3 gam chất béo, 0,4 gam chất xơ, 18 mg canxi, 28 mg photpho, 0,5 mg sắt, 0,08 mg caroten, 24 mg vitamin C, 0,02 mg vitamin B2, 0.08 mg vitamin B1, 0,2 mg niacin.
Tác dụng của dứa đối với sức khỏe:
1. Dứa có chứa enzym gọi là “enzyme protein dứa” – những chất có thể phá vỡ các protein, làm tan các cục máu đông, cải thiện lưu thông máu trong cơ thể, loại bỏ tình trạng viêm và phù nề.
2. Lượng muối, đường và các enzym trong dứa có tác dụng lợi tiểu, lọc thận và rất có lợi cho những bệnh nhân bị cao huyết áp.
3. Dứa ngọt rất tốt cho dạ dày và hệ tiêu hóa và có tác dụng ngăn chặn bệnh tiêu chảy.
Những ai nên ăn nhiều dứa?
1. Dứa đặc biệt thích hợp cho những người khó chịu và có biểu hiện sốt, viêm thận, cao huyết áp, viêm phế quản, khó tiêu sau ăn.
2. Bệnh nhân bị loét bên ngoài cơ thể hoặc trong nội tạng, bệnh nhân bị thận, bệnh nhân bị đông máu nên ăn dứa. Nhưng những bệnh nhân bị chàm, ngứa ghẻ thì không nên ăn dứa.
(Theo afamily)
Thuốc dan gian trị tiêu chảy, kiết lỵ
1. Bài thuốc từ lá mơ lông
Theo y học cổ truyền, mơ lông có vị đắng, hơi chát, tính mát có tác dụng nhuận gan, giải nhiệt, mạnh tỳ vị, tiêu thực, sát khuẩn, tẩy giun, giải độc… Thông thường, dân gian hay sử dụng lá mơ lông để đặc trị các bệnh liên quan đến đường tiêu hoá, đặc biệt là tiêu chảy và kiết lỵ.
- Chữa kiết lỵ: Lấy một nắm lá mơ tuơi rửa sạch, thái nhỏ, đập vào một quả trứng gà ta (trứng gà ăn thóc) trộn đều, lấy lá chuối bọc lại rồi nướng chín để ăn. Nếu không có điều kiện nướng chín, có thể trộn lòng đỏ trứng với lá mơ thái nhuyễn và sử dụng biện pháp hấp cách thuỷ, đơn giản nhất là hấp trong nồi cơm. Ăn ngày 2-3 lần, ăn liên tục trong vài ba ngày là khỏi. Đối với trẻ em, có thể xay nhuyễn lá mơ dùng thay rau trong món bột hoặc cháo xay.
- Chữa tiêu chảy do nóng: Đối với chứng tiêu chảy với các biểu hiện đi ngoài liên tục, mất nước, khát nhiều, sốt nhẹ, nước tiểu vàng, bụng đau quặn và đầy hơi, hậu môn nóng rát nên dùng lá mơ 16g, nụ sim 8g sắc cùng với 500ml nước còn 200ml, chia làm hai lần uống trong ngày. Nếu không kiếm được nụ sim thì chỉ cần mỗi ngày dùng từ 10-15 lá mơ lông sắc nấu làm trà uống liên tục cũng có tác dụng hiệu quả. Sau khi triệu chứng tiêu chảy đã không còn, vẫn nên tiếp tục dùng lá mơ thêm 2-3 ngày nữa để ổn định tỳ vị, đồng thời chế độ ăn nên cắt giảm chất béo.
2. Bài thuốc từ rau sam
Rau sam có vị chua, tính hàn, tác dụng trị kiết lỵ, trừ giun sán, chữa mụn nhọt và các bệnh ngoài da. Kinh nghiệm dân gian thường dùng rau sam để đối phó với căn bệnh lỵ, tiêu chảy như sau:
- Để phòng ngừa, hàng ngày dùng từ 100-200g rau sam làm rau ăn hoặc nấu cháo ăn hàng ngày.
- Khi đã có triệu chứng đau bụng, tiêu chảy nhiều, dùng rau sam tươi 100g, cỏ sữa tươi 50g sắc uống thay nước trong ngày. Nếu đi ngoài ra máu có thể bổ sung thêm 20g nhọ nồi, 20g rau má vào sắc uống cùng.
- Trong trường hợp cần tẩy trừ giun sán, chỉ cần rửa sạch 1 nắm rau sam tươi (khoảng 50-100g) giã nát, thêm muối vào rồi vắt lấy nước uống. Uống liên tục trong 3-5 ngày.
3. Bài thuốc từ cây ổi
Quả ổi là thứ trái cây giàu dinh dưỡng và chất chống oxy hoá, có tác dụng hiệu quả với nhiều loại bệnh. Riêng đối với bệnh tiêu chảy, ổi có tác dụng làm se da, co mạch, giảm sự xuất tiết và kích thích ở màng ruột, làm dịu nhanh chóng các triệu chứng cấp của bệnh.
Để chữa tiêu chảy cấp, có thể sử dụng búp ổi hoặc lá ổi sắc lấy nước uống với nhiều cách khác nhau:
- Cách 1: Búp ổi 20g, vỏ măng cụt 20g, gừng nướng 10g, gạo rang 20g sắc kỹ lấy nước uống nhiều lần trong ngày.
- Cách 2: Búp ổi 20g sao qua; vỏ quýt khô 10g; gừng nướng chín 10g. Tất cả cắt nhỏ, sắc với 400 ml nước còn 100 ml, uống làm 2 lần trong ngày.
- Cách 3: Búp ổi 20g, củ sả 16g, củ riềng 8g. Thái nhỏ, sao qua, sắc lấy nước đặc uống.
- Cách 4: Lá ổi 20g phối hợp với vỏ bưởi 20g, phơi khô; lá chè tươi 10g; gừng tươi 2 lát. Sắc uống.
Khi bị đi ngoài với các triệu chứng nhẹ hơn dạng cấp, có thể lấy ngay 5-7 búp ổi, rửa sạch, nhai với vài hạt muối, nuốt nước, ngày 2-3 lần.
4. Bài thuốc từ hồng xiêm xanh
Hồng xiêm chín là thứ trái cây ngon, giàu dinh dưỡng. Còn hồng xiêm xanh với vị chát, tính bình lại là phương thuốc hiệu quả chữa tiêu chảy, kiết lỵ. Cách sử dụng như sau:
Cắt quả hồng xiêm xanh thành nhiều lát mỏng, phơi khô, sao vàng để dùng dần. Mỗi lần sử dụng lấy khoảng 10 lát sắc với nước uống, lượng nước phải ngập hồng xiêm. Sau đó đổ ra lấy nước uống mỗi ngày 2 lần. Lưu ý là đối với trẻ nhỏ, trước khi cho uống nên nếm thử, không được cho trẻ uống đặc quá.
(Theo afamily.vn)
Thuốc trị tiêu chảy trong ngày hè
Mùa hè, do khí hậu nóng ẩm là điều kiện thuận lợi cho các loại vi sinh vật phát triển khiến các loại thực phẩm dễ bị ôi thiu, biến chất làm nhiều người bị tiêu chảy khi ăn phải những thực phẩm này.
Thuốc làm giảm nhu động ruột
Một số loại thuốc chữa tiêu chảy thông thường dùng trị triệu chứng, làm giảm sự co thắt của ruột, giảm sự tiết dịch, do đó làm giảm đau bụng và giảm đi tiêu, làm cô đặc phân. Đây là thuốc có tác dụng cầm tiêu chảy nhanh, mạnh nhưng phải rất thận trọng bởi thuốc gây tác dụng phụ, vì nó là dẫn chất thuốc phiện. Các thuốc là vi sinh vật giúp ổn định tạp khuẩn ruột như antibio, biofl or, urtra, leirire… chứa vi sinh vật có ích khi uống sẽ được đưa vào trong ruột để giúp tái lập sự cân bằng của hệ tạp khuẩn.
Thuốc là chất hấp phụ: smecta, acticarbin, carbotrim, quinocarbin… Chất hấp phụ là chất trơ về mặt hóa học và có cấu trúc đặc biệt, có khả năng hút giữ vi khuẩn, độc tố vi khuẩn, siêu vi, khí sinh ra trong ống tiêu hóa là những tác nhân làm kích thích niêm mạc và sau đó được thải ra ngoài kéo theo các chất mà nó hút giữ. Chất hấp phụ không hòa tan và không hấp thu nên dùng tương đối an toàn cho người sử dụng.
Hiện nay có bán nhiều trên thị trường loại thuốc chữa tiêu chảy như smecta dùng trị tiêu chảy thông thường. Nếu đau quặn nhiều, dùng spasmaverin, buscopan. Nếu tiêu chảy không bớt, cần dùng imodium. Tuy nhiên, không dùng khi tiêu chảy nhiễm trùng có sốt hoặc ngộ độc thức ăn hoặc tiêu chảy có nôn ói, đau bụng dữ dội.
Ngoài ra, để trị tiêu chảy cấp và mạn tính có thể dùng thuốc có chứa lopéramide. Do chưa có sự hiểu biết đầy đủ về thuốc nên có khá nhiều người (kể cả cán bộ y tế cơ sở) đã sử dụng thuốc này trị tiêu chảy cho trẻ nhỏ và đã có trường hợp gây tai biến. Trong nhóm thuốc phòng ngừa tiêu chảy thuộc loại này bao gồm những biệt dược như: arestal, dạng viên nén, trong chứa hoạt chất lopéramide oxide monohydrate tương đương 1mg lopéramide khan. Ame modium thuộc dạng nén trong nang chứa hoạt chất lopéramide hydrochloride 2mg. Apo – lopéramide dạng viên nén cũng chứa 2mg hoạt chất lopéramid hydrochloride. Hay các loại có dạng viên nang như imodium, lopedium, loperamide, loidium capsules chứa hàm lượng 2mg hoạt chất lopéramide hydrochloride…
Loại lopéramid oxide: Khi uống vào thì khoảng 20 – 30% thuốc được hấp thu. Trong vòng 30 – 60 phút sau uống thì nồng độ lopéramide oxide được hấp thu tối đa vào huyết tương rồi giảm dần. Thời gian bán hủy là 60 phút. Phần lớn lopéramide oxide đi qua đoạn cuối của ruột non tới ruột già và ở đây, nó được chuyển dần thành lopéramide. Bởi vậy, nồng độ cao nhất của lopéramide đạt được sau khi uống là sau 5 – 8 giờ. Thời gian bán hủy là 20 giờ. Lượng lopéramide tới gan sau khi uống 1 viên lopéramide oxide 1mg chỉ bằng 25% so với uống viên lopéramide hydrochloride 2mg.
Thuốc được chỉ định sử dụng trong trị
tiêu chảy cấp và mạn tính
Với lopéramide hydrochloride: Cơ chế tác dụng của thuốc là ức chế nhu động ruột đẩy tới bằng tác dụng ngoại biên trực tiếp lên thành dạ dày, ruột. Thuốc được chuyển hóa hoàn toàn ở gan, thải trừ theo đường mật theo phân ra ngoài. Khi chức năng gan bình thường thì thấy tỷ lệ rất nhỏ thuốc vào máu và được đào thải ra ngoài cơ thể theo đường nước tiểu, còn chủ yếu là đào thải theo phân ra ngoài cơ thể.
Thuốc cũng được chỉ định sử dụng cho tiêu chảy cấp và mạn.
Những vấn đề cần lưu ý khi dùng thuốc:
Tác dụng phụ: Đau bụng, gây rối loạn tiêu hóa, nặng có thể nôn, liệt ruột hay táo bón, chóng mặt, khô miệng, mệt mỏi, da nổi mẩn đỏ. Đặc biệt nguy hiểm có thể xảy ra là gây viêm ruột non, ruột kết, có khi hoại tử ruột hay nhiễm độc làm to ruột kết là nguy hiểm nhất.
Thận trọng: Không sử dụng thuốc cho người đang mang thai, trẻ em dưới 12 tuổi, nếu cần sử dụng phải theo dõi và chỉ dùng thuốc này trong 2 ngày trừ trường hợp có đơn của bác sĩ điều trị.
Chống chỉ định: Người mẫn cảm với thuốc lopéramide, trẻ em dưới 6 tuổi hay người có tiền sử bệnh gan, đang bị táo bón hay sốt cao có thân nhiệt trên 38 độ, đang có mẫn cảm hay dị ứng khác, ức chế nhu động ruột, chậm vận chuyển trong ruột, có viêm loét đại tràng hay viêm loét đại tràng giả mạc, phân có nhày máu (lỵ cấp).
Các trường hợp tiêu chảy cấp ở người lớn thường do nhiều nguyên nhân gây ra như do vi khuẩn, do nhiễm độc thức ăn, do sử dụng kháng sinh kéo dài, rối loạn tiêu hóa hay tại đại tràng kém hấp thu, ruột tăng vận động… thì lopéramide không có tác dụng trị liệu hoặc kém tác dụng vì thuốc này chỉ sử dụng để chữa tiêu chảy cấp hoặc tiêu chảy mạn do ruột bị tăng vận động.
Khi sử dụng các loại thuốc có chứa lopéramide, tuyệt đối không được uống rượu và mọi chế phẩm có chứa rượu. Không sử dụng trong thời gian dùng thuốc này cùng lúc với các thuốc ức chế thần kinh trung ương hoặc thuốc bacbiturat.
(Theo Suckhoedoisong)
Hiểu và dùng đúng thuốc cầm tiêu chảy
Khi người bệnh bị tiêu chảy, cầm tiêu chảy là mong muốn đầu tiên, riêng với trẻ em thì đó còn là sự sốt ruột của cha mẹ. Nhưng cầm tiêu chảy bằng cách nào, thuốc nào?
Thuốc cầm tiêu chảy cho dạng tiêu chảy không nhiễm khuẩn
Tiêu chảy dạng không nhiễm khuẩn còn gọi là tiêu chảy không đặc hiệu liên quan đến đường ruột như rối loạn tiêu hóa, viêm đại tràng… có ảnh hưởng lên sự chuyển hóa dịch – chất điện giải qua ruột (theo cơ chế khác) đưa đến kết quả giảm thể tích phân, tăng độ nhớt, tỷ trọng khối.Có hai loại thuốc cầm tiêu chảy không đặc hiệu thường dùng là loperamid và racecadotril. Chúng có những điểm giống và khác nhau.
Chúng giống nhau đều không có tính kháng khuẩn nên thường chỉ dùng trong tiêu chảy không do nhiễm khuẩn; còn trong tiêu chảy do nhiễm khuẩn không dùng riêng lẻ, nếu có dùng thì chỉ với vai trò phụ trợ, phối hợp. Nếu dùng phòng và trị tiêu chảy dạng không đặc hiệu thì chúng làm giảm được sự mất dịch, chất điện giải. Tuy nhiên, khi khi bị mất dịch – chất điện giải, chúng đều không có khả năng thay thế được việc bù dịch – chất điện giải bằng các thuốc truyền thống như oresol, dung dịch natri chlorua 0,9% hay dung dịch ringer lactate.
Chúng có vài điểm khác nhau về cơ chế, tác dụng không mong muốn cách dùng:
Loperamid là chất tổng hợp thuộc nhóm opiat. Tác dụng trực tiếp lên cơ dọc thành ruột, giảm nhu động thành ruột, tăng cường lực cơ vòng co thắt hậu môn ngăn quá trình tống thưc ăn, phân ra ngoài giảm tiết dịch đường tiêu hóa. Kết quả: làm giảm sự mất dịch – chất điện giải, giảm thể tích phân, cầm tiêu chảy mạnh, nhanh. Racecadotril ức chế enzym enkephalinase qua đó làm giảm tiết dịch – chất điện giải vào ruột khi có sự tăng tiết, giảm mất dịch – chất điện giải, giảm thể tích phân, cầm tiêu chảy nhưng không mạnh, nhanh bằng loperamid.
Một nguyên tắc trong điều trị tiêu chảy nhiễm khuẩn là không được giữ phân lại lâu trong ruột. Loperamid với cơ chế tác dụng trên sẽ giữ lại phân ở ruột lâu; từ đó, tăng sinh vi khuẩn ruột, bùng phát trở lại sự nhiễm khuẩn. Trong trường hợp vi khuẩn tiết ra chất độc, loperamid giữ lại chất độc và tăng chất độc. Tác dụng không mong muốn này xẩy ra khi dùng loperamid phối hợp trong điều trị tiêu chảy nhiễm khuẩn với liều cao kéo dài (gây giảm nhu động ruột, tăng sự co vòng cơ thắt và quá mức). Trong khi đó racecadotril có cơ chế làm giảm tiết dịch mà không giảm nhu động ruột, tăng trương lực cơ vòng co thắt hậu môn, nên không có tác dụng không mong muốn này. Cũng vì thế phạm vi liều dùng của racecadotril rộng hơn.
Loperamid là một opiat tổng hợp, dùng cho người lớn, ít độc cho hệ thần kinh trung ương như opioic tự nhiên. Tuy nhiên, loperamid có thể gây độc cho thần kinh của trẻ dưới 6 tuổi. Cho nên, loperamid không được đưa vào thường quy điều trị tiêu chảy cho trẻ em dưới 6 tuổi. Racecadotril không thuộc nhóm opoiat, không có các tác dụng không mong muốn này, có thể dùng cho trẻ từ 3 tháng tuổi trở lên.
Loperamid khi dùng liều cao kéo dài sẽ gây táo bón, buồn nôn, khô miệng, chướng bụng, tắc liệt ruột (do giảm nhu động ruột, tăng trương lực cơ vòng co thắt hậu môn quá mưc); gây nhức dầu chóng mặt, mệt mỏi (do tác động lên hệ thần kinh). Không được dùng loperamid với người nhu động ruột giảm sút, chướng bụng, không dùng cho người có thai (vì chưa có đủ thông tin), có thể dùng cho người cho con bú (vì tiết qua sữa rất ít) nhưng chỉ nên dùng liều thấp nhất có hiệu lực; thận trọng khi dùng cho người viêm loét dạ dày, suy giảm chức năng gan. Trong vòng 48 giờ dùng loperamid riêng lẻ hay kết hợp với các thuốc trị tiêu chảy khác mà không có kết quả thì ngừng dùng, tìm giải pháp khác, mà không dùng tăng liều. Racecadotril với liều điều trị, hiện chưa ghi nhận được các tác dụng không mong muốn nào nghiêm trọng.
Những điều phân biệt nêu trên nhằm để dùng thuốc vào các trường hợp thích hợp, không hàm nghĩa so sánh độ tốt xấu của hai thuốc.
Thuốc cầm tiêu chảy cho dạng tiêu chảy nhiễm khuẩn
Tiêu chảy nhiễm khuẩn là do chính vi khuẩn hay độc tố vi khuẩn tiết ra sự mất dịch – chất điện giải. Muốn cầm tiêu chảy, phải dùng kháng sinh đặc hiệu cho mỗi loại nhiễm khuẩn.
Với nhiễm khuẩn shigella: các kháng sinh cổ điển như cot r imoxazol bị vi khuẩn kháng 90% (2009), acid nalixidic bị vi khuẩn kháng 70%(2009) nên dùng không đáp ứng, không chăc chắn. Hiện theo WHO và nước ta cần cho dùng các fluorfoquinolon (cyprofloxaxin hay ofloxain, perfloxacin) hay ceftriaxon.
Với nhiễm khuẩn escherichia Coli: nếu là chủng E. Coli thông thường thì có thể dùng bactrim, berberin; nếu không dáp ứng có thể dùng các fluoroquinolon. Nếu là chủng sinh độc tố thì không dùng kháng sinh, vì sẽ làm tăng sự phóng thích độc tố gây chứng tán huyết – urê huyết cao.
Với nhiễm sallmonela thông thường (S.non-typhi ): khi nhiễm một lượng lớn, sinh ra đủ độc tố, mới gây nhiễm độc. Biểu hiện rất dữ dội: đau quặn bụng, đi ngoài nhiều lần, sốt. Tuy nhiên, khi tách khỏi nguồn lây thì bệnh không nặng thêm. Chỉ cần dùng thuốc chữa triệu chứng.Với người lớn khỏe mạnh, không nhất thiết dùng kháng sinh. Với người già, trẻ em (sức đề kháng yếu) có thể dùng kháng sinh hỗ trợ. Dùng bactrim, nếu không đáp ứng thì dùng các fluoroquinolon.
Với nhiễm sallmonela enterica typhi (thương hàn): các kháng sinh đặc hiệu cổ điển chloramphenicol, bactrim nay đã bị kháng thuốc rất cao (qua nhiều vụ dịch, thấy không còn đáp ứng).
Nhất thiết phải dùng kháng sinh đặc hiệu loại mới fluoroquinolon như ofloxacin (uống hay tiêm). Ngay từ đầu, không được dùng một liều mạnh ( vì vi khuẩn bị diệt quá nhiều sẽ sinh ra độc tố có hại làm nặng thêm các triệu chứng) mà chỉ dùng liều lúc đầu bằng 2/3 liều điều trị thông thường và tăng dần đến khi đạt hiệu quả (bằng liều điều trị thông thường) và duy trì cho dến lúc khỏi bệnh. Sau một đợt dùng, bệnh sẽ khỏi. Tuy nhiên, ở một số người bệnh, tuy không còn triệu chứng nhưng xét nghiệm phân vẫn còn vi khuẩn; cần dùng một đợt kháng sinh khác chữa dứt điểm.
Với nhiễm campylobacter: do nhiễm khuẩn từ thịt gia cầm chưa nấu chín. Dùng kháng sinh erythromycin nhưng sau 4 ngày mới có hiệu quả; nếu không đáp ứng, có thể dùng kháng sinh fluoroquinolon.
Với nhiễm virus: hay gặp nhất là nhiễm rotavirus (ở trẻ nhỏ), hay norovirus (nhiều hơn ở người lớn). Có thể phát thành dịch nhưng không nguy hiểm. Chỉ dùng thuốc chữa triệu chứng như bù mất dịch – chất điện giải.
Tiêu chảy do nhiểm khuẩn gây mất dịch – chất điện giải nhiều hơn tiêu chảy không do nhiễm khuẩn. Mất dịch – chất điện giải sẽ gây ra các rối loạn nội môi, quan trọng nhất gây trụy mạch tử vong. Dùng thuốc bù dịch – chất điện giải là giải pháp cấp cứu hàng đầu. Hiện nay, thầy thuốc cũng như người bệnh hiểu rõ tầm quan trọng và thực hiện điều này khá tốt. Tuy nhiên nếu không quan tâm đúng mức đến việc xác định chủng nhiễm khuẩn, dùng kháng sinh đặc hiệu, thậm chí chỉ dùng kháng sinh qua quýt, không cân nhắc kỹ (như bất cứ tiêu chảy nào cũng dùng bactrim, dùng cả các kháng sinh đã bị kháng ) thì sẽ không chữa khỏi bệnh mà còn lây vi khuẩn ra người khác, phát tán vi khuẩn vào môi trường gây ra dịch.
Dùng các thuốc cầm tiêu chảy không đúng
Xưa kia không có thuốc, thường dùng búp ổi lá sim, có chứa nhiều tannin làm săn niêm mạc ruột, cầm tiêu chảy. Nếu dạng tiêu chảy do rối loạn tiêu hóa, cách dùng này có thể sẽ làm rối loạn tiêu hóa thêm (do các phản ứng ngược chiều) nhất là với trẻ em. Nếu là tiêu chảy do nhiễm khuẩn, thì cách dùng này sẽ không kháng được vi khuẩn làm mất được nguyên nhân gây tiêu chảy (vì tanin không có tính kháng khuẩn).
(Theo 24h.com)










