Tìm hiểu về ung thư đại tràng và mức độ nguy hiểm của nó

Nguyên nhân

Đại tràng còn gọi là ruột già, là đoạn ruột có kích thước rộng, u đại tràng và trực tràng xuất phát từ thành trong của ruột già (đại tràng). Khối u lành tính của đại tràng gọi là polyp.

Ung thư đại tràng là gì?

Đại tràng là một phần của hệ tiêu hoá, chứa phân. Trực tràng là phần cuối cùng của đại tràng, nằm sát hậu môn.

Các khối u ác tính cứa ruột già gọi là ung thư. Các polyp lành tính không xâm lấn và lây sang mô kế cận hay những bộ phận khác của cơ thế. Polyp lành tính có thễ dễ dàng cắt bó khi nội soi đại tràng, và không đe doạ tính mạng người bệnh. Nếu polyp lành tính không thế cắt bỏ được, thì nó có thê trở thành ác tính (ung thư hoá) theo thời gian. Nhiều ung thư đại tràng được cho là phát triến từ những polyp. Ung thư đại, trực tràng có thê xâm lấn và làm tốn thương các cơ quan lân cận.

Phần lớn người ung thư đại tràng trên 50 tuổi
Phần lớn người ung thư đại tràng trên 50 tuổi

Các tế bào ung thư cũng có thê tách ra và lan sang các bộ phận khác của cơ thê (như gan và phổi) tạo ra những khối u mới. Sự lan của ung thư đại tràng đến các Cơ quan xa, được gọi là ung thư đại tràng di căn. Một khi ung thư đại, trực tràng đã di căn, thì việc điều trị sẽ không còn hiệu quá nữa.

Nói chung, ung thư đại, trực tràng là loại ung thư đứng hàng đầu ớ nam, và đứng hàng thứ tư trong các loại ung thư ớ nữ. Tân suất bị ung thư đại tràng thay đối tuỹ theo vùng trên thế giới.

Ung thư đại tràng có tỷ lệ cao nhất ỏ các nước phát triến với chế độ ăn giàu chất dinh dưỡng, nhiều chất béo nhưng lại ít chất xơ. Theo thống kê nảm 1997 ớ My, ung thư đại tràng đứng hàng thứ hai sau ung thư phối; cứ 4 phút lại phát hiện thêm 1 ca ung thư mới và cứ 10 phút lại có 1 bệnh nhân tủ vong do ung thư đại tràng.

Yếu tố nguy cơ

Có 75% các ca ung thư đại tràng tìm thấy trong lứa tuổi trên 50 này; 20% các ca ung thư đại tràng có liên quan tới gia đình có người bị mắc bệnh này, và 1% liên quan tới những bệnh nhân bị viêm loét đại tràng.

Các triệu chứng lâm sàng của ung thư đại tràng thường xuất hiện muộn khi khối u đã quá to, gây ra triệu chứng bán tắc ruột hoặc táo bón, đau bụng, ía lỏng kéo dài, phân có lẫn máu mũi, gầy sút cân, thiếu máu. Trong một số trường hợp khối u nằm ớ thấp, bệnh nhân lại có các triệu chứng đau quặn, mót rặn như hội chứng lỵ, nên chấn đoán thường bị nhâm lẫn với bệnh lỵ hoặc trĩ.

Chụp X quang CÓ thể phát hiện những khối u lớn, nhưng lại luôn bỏ sót các khối u khi còn nhò, và cuối cùng vẫn phải nội soi đại tràng thì mới chấn đoán xác định và khắng định bán chất của khối u. Vì vậy, nội soi đại tràng ống mềm là phương pháp duy nhất để chấn đoán ung thư đại tràng ngay từ giai đoạn sớm. Có 20% bệnh nhân ung thu đại tràng có di càn sang gan được chấn đoán bằng siêu âm.

Điều trị

Ngoại khoa là phương pháp điều trị triệt để duy nhất, với việc cắt bỏ một phần đại tràng, và bóc hết các hạch di căn.

Sau phẫu thuật cắt bỏ một phần đại tràng, tất cá bệnh nhân đều được điều trị phối hợp hóa chất theo phác đồ đang được áp dụng rộng rãi hiện nay: 5-Fluouracile + calci Polinat trong vòng 6 tháng. Hàng tháng bệnh nhân chi vào nằm viện 5 ngày để truyền hóa chất. Phương pháp điều trị phối hợp ngoại khoa với hóa chất, đã làm tăng tuối thọ của các bệnh nhân sau mố. Một số triệu chứng có liên quan tói dùng hóa chất như giám bạch cầu, buồn nôn, ía chảy có thể gặp, nhưng hiếm và không nặng.

Theo dõi sau mổ: Bệnh nhân phải nội soi kiếm tra sau 1 năm, nếu kết quá bình thường thi sau 3 năm và 5 năm mới phải soi lại.

Cách phòng bệnh và một số điều cần biết

Chế độ ăn nhiều chất xơ và giảm chất béo, tập thể dục thường xuyên sẽ làm giảm tý lệ mắc bệnh ung thư đại tràng. Gần đây, một số nghiên cứu cho thấy những người thường xuyên uống aspirin sẽ giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư đại tràng. Dùng sulindac (một thuốc chống viêm không có corticoid) với liều 300mg/ ngày cũng làm giám kích thước adenoma, và trong một SỐ trường hợp còn làm biến mất các adenoma. Tuy nhiên, dùng sulindac phải cấn thận, vì 2% trường hợp bệnh nhân dùng thuốc này có thể có biến chứng cháy máu dạ dày tá tràng.

Căn bệnh này đứng hàng thứ 3 về mức độ nguy hiếm trong các loại ung thư (sau ung thư vú và tuyến tiền liệt). Bệnh thường gặp ớ người trên 50 tuối, không có triệu chứng đặc hiệu. Khi các biếu hiện trớ nên rõ ràng nghĩa là bệnh đã giai đoạn nặng.

Triệu chứng của ung thư đại tràng thường không đặc hiệu, tùy thuộc vào vị trí ung thư. Các biếu hiện thường gặp là đau bụng, thay đối thói quen đi ngoài (táo bón hoặc dêu cháy), đi tiếu ra máu, có cám giác mót rặn sau khi đi tiếu, có biểu hiện thiếu máu… Cũng như các loại ung thư khác, bệrứi ung thư đại tràng sẽ gây tứ vong nếu không được phát hiện và điều ưị kịp thời.

Đê phát hiện sớm ung thư đại tràng, những người trên 50 tuối nên đi thứ phân mỗi nẳm đế tìm máu ấn trong phân. Nếu kết quá là dương tính, cần làm nội soi đại tràng. Viộc nội soi đại tràng cUng cần được tiến hành trên những người có nguy cơ cao như;

– Bị bệnh viêm loét đại tràng.

– Có dấu hiệu rối loạn tiêu hóa.

– Có người thân bị ung thư đại tràng.

Nếu được phát hiện kịp thời, ung thư đại tràng có thể chữa khói bằng phẫu thuật và hóa trị. Không nên coi thường các polyp ớ đại tràng, tuy chi là các mô lành tính, nhưng polyp có thê chuyển hóa thành ung thư. Khi nội soi đại tràng, nếu phát hiện polyp, bác sĩ có thế cắt nó qua ống nội soi. Những bệnh nhân có polyp nên soi đại tràng định kỹ 1 – 5 năm một lần, tùy kích thước cùa tố chức này.