Phương pháp chữa loét dạ dày tá tràng phổ biến thời nay

Phòng bệnh

Những năm 70 – 80, việc chữa bệnh viêm loét dạ dày tá tràng, có sứ dụng kèm thuốc kháng sinh bị cho là không bình thường. Thay vào đó, phải dùng các thuốc ốn định.

Phương pháp điều trị loét dạ dày tá tràng

Vậy mà gần 20 năm sau, việc dùng kháng sinh trong điều trị bệnh lý tiêu hóa lại trò thàiứi phố biến, thậm chí không thê thiếu. Vậy điều gì đã xảy ra trong y học?

Các phát hiện về vi sinh trong những nẳm 80 tình cờ nhận thấy có sự hiện diện của vi kliuấn Helicobacter Pylori (HP) trong các máiứi sinh thiết dạ dày.

Qua nghiên cứu y học, giờ đây các nhà khoa học đã có thế kết luận rằng, chính chúng là nguyên nhân gây ra viêm loét dạ dày tá tràng. Các vi khuấn HP từ ngoài xâm nhập vào tế bào niêm mạc dạ dày, rồi cư trú và phát triển tại đó, gây ra viêm và teo niêm mạc dạ dày, sau đó, tùy theo độc lực của các chủng vi khuấn và các yếu tố nội tại cụ thể cùa từng người bệnh mà gây ra loét.

Một số yếu tố trung gian do vi khuấn HP tiết ra, lại là các yếu tố gây ung thu. Các cuộc theo dõi liên tục và làu dài đã chứng minh rằng, 90% các ung thu dạ dày là có liên quan đến HP và 3/4 số ung thu dạ dày mới gặp hiện nay thấy ở vùng châu A.

Tỹ lệ nhiễm HP chung ớ nguời Việt Nam khoảng 70% và gặp trong 70% số nguôi bị loét dạ dày, gặp 90% trong số loét hành tá tràng. Không thế đoán trước được rằng người nào bị nhiễm HP sẽ trớ thành ung thư, vì vậy cách tốt nhất đế phòng tránh ung thư là phải diệt trừ HP ngay từ đâu.

Kháng sinh là phương pháp điều trị viêm loét dạ dày tá tràng phổ biến hiện nay
Kháng sinh là phương pháp điều trị viêm loét dạ dày tá tràng phổ biến hiện nay

Việc điều trị nhiễm HP cần được tiến hành ờ những người có bệnh dạ dày tá tràng, có u lympho ở niêm mạc đường tiêu hóa, hay người có tiền sứ gia đình ung thư đường tiêu hóa, ỏ nguời xét nghiệm thấy vi khuấn dù chưa mắc bệnh.

Thuốc điều trị là kháng sinh mà chủ yếu là Metronidazole hoặc Clarithromycin, nhưng hiện nay hiện tượng đề kháng thuốc đã dần xuất hiện (47 – 86% với Metronidazol, 20% với Clarithromycin và 69% vói Amoxiciclin) làm ảnh hướng nhiều đến kết quả điều trị.

Dùng Clarithromycin đế điều trị có tỷ lệ thành công cao hon hắn so vói Metronidazol, nhưng hiệu quả của thuốc sẽ tăng hơn nếu ức chế tiết acid đầy đú bằng các thuốc ức chế bơm proton đế làm tăng độ pH cùa dạ dày.

Các phác đồ điều trị chú yếu hiện nay là sự phối hợp cúa 3 hoặc 4 loại thuốc trong số: thuốc ức chế bơm proton – Amoxcycilin – MetronidazoI – Clarithromycin và Bismuth hay Tetracyclin.

Phuơng thức chung diệt trừ triệu chứng loét dạ dày, điều trị Helicobacter Pylori ớ bệnh nhân dạ dày tá tràng có hiệu lực nhất là theo tóm tắt sau:

Chí định tiệt trừ HP: Loét hành tá tràng; loét dạ dày; viêm teo dạ dày mạn tính hoạt động; u lympho bào dạ dày hoạt hóa thấp; ung thư dạ dày chẩn đoán rất sớm; điều trị lâu dài với thuốc chống viêm không steroid (NSAID) hay có tiền sứ loét truớc khi điều trị.

Có thề dùng trong các trường hợp: Ung thư dạ dày chấn đoán muộn và đã phẫu thuật; trào ngược dạ dày thực quản; viêm dạ dày đã điều trị nhiều lần không giám hay con cái những người bị ung thư dạ dày.

Công thức điều trị : chọn một ưong các phác đồ sau;

  1. ức chế bơm proton (PPI) + Clarithromycin (C) 500mg + Amoxiciclin (A) lOOOmg dùng ngày 2 lần trong ít nhất 7 ngày.
  2. [ PPI + c 500mg + Metronidazol (M) 500mg] X 2 lần X 7 ngày.
  3. [ PPI + Bismuth (B)200 – 400mg + Tetracyclin (T) lOOOmg + M 500mg] X 2 lần X 7ngày.
  4. [ PPI + B 200 – 400 mg +T lOOOmg + A lOOOmg] X 2 lần X 7 ngày.
  5. PPI 2 lần/ngày + [ T 250mg + M 200mg + B 108mg ] X 5 lần X 10 ngày.

Khi điều trị thứ với một phác đồ không thành công thì thứ đối qua phác đồ khác. Không nên điều trị loét dạ dày tá tràng với phác đồ chí 1 hay 2 thứ thuốc. Khi thứ 2 phác đồ mà vẫn không thành công, thì cần cấy lại vi khuẩn và làm kháng sinh đồ.

Ngày nay, y học còn phát hiện ra thêm cá trong vữa xơ động mạch và nhồi máu cơ tim, cũng thấy có vai trò cúa vi khuấn HP, vì vậy các bác sĩ tim mạch cũng đă đến lúc cần phải dự phòng rứiồi máu cơ tim bằng thuốc kháng sinh.